Nguyên nhân trẻ em biếng ăn

Chán ăn (biếng ăn) là một trong những lý do khám dinh dưỡng thường gặp nhất tại phòng khám dinh dưỡng BV Nhi đồng Thành phố. Chán ăn xảy ra ở tất cả các lứa tuổi.

Chán ăn có nhiều biểu hiện khác nhau:

  • Trẻ từ chối ăn hoặc từ chối uống sữa, hoặc từ chối cả hai
  • Trẻ ăn/uống sữa rất ít
  • Trẻ ăn/bú sữa ngậm lâu
  • Ăn phải có điều kiện (xem các thiết bị điện tử, chơi đồ chơi, đi rong…)
  • Trẻ thường than buồn nôn, đau bụng, đau đầu, mắc đi vệ sinh … khi tới giờ ăn, khi nhìn thấy đồ ăn.
  • Trẻ chỉ ăn được vài món quen thuộc …

1.NGUYÊN NHÂN GÂY CHÁN ĂN Ở TRẺ EM:

  • Các bất thường trên đường tiêu hoá:

Chẻ vòm, viêm nướu, viêm loét miệng, đau răng, viêm họng, viêm amidan, viêm mũi họng, viêm thực quản, trào ngược dạ dày thực quản, viêm dạ dày ruột, viêm tuỵ …

  • Do một số bệnh lý:
  • Táo bón, loạn khuẩn đường ruột, ăn ngọt trước bữa chính, ăn quá nhiều đạm.
  • Viêm phổi, viêm tai giữa, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng da, chấn thương…
  • U ác tính.
  • Do mất cân đối dinh dưỡng:
  • Thiếu một số acid amin, vitamin và khoáng chất: như kẽm, vitamin nhóm B, Lysin…
  • Uống quá nhiều sữa hơn mức cần thiết theo độ tuổi
  • Không đa dạng thực phẩm, nhóm chất.
  • Ăn dặm quá sớm (trước 4 tháng tuổi) hoặc quá trễ (sau 8 tháng tuổi)
  • Ăn thô không phù hợp giai đoạn tuổi.
  • Do sinh lý:

Ngay cả khi khỏe mạnh, cũng có những giai đoạn trẻ tự nhiên ăn ít hẳn đi trong vài ngày đến vài tuần mà vẫn chơi, vui vẻ đó là các giai đoạn trẻ mải … học quên ăn. Các thời điểm đó thường trùng với lúc trẻ học các kỹ năng mới : biết ngồi, đứng, đi, học nói v.v… Sau đó trẻ ăn uống lại bình thường điều cốt yếu là cha mẹ đừng ép bé ăn quá mức gây biếng ăn tâm lý.

  • Có khi ăn hết phần, có khi hầu như ăn rất ít.
  • Xảy ra vài ngày đến vài tuần, không ảnh hưởng tăng trưởng và vận động hàng ngày.
  • Tự hết mà không cần can thiệp.
  • Do tâm lý:

Đây là nguyên nhân phổ biến nhất do cha mẹ không hiểu tâm sinh lý trẻ, do cuộc sống quá vất vả, căng thẳng. Bữa ăn của trẻ không được thoải mái, thích thú để giúp trẻ khám phá thế giới qua các giác quan của mình như vị giác, kèm xúc giác được cầm, bốc xúc thức ăn, hoặc thị giác với các ly chén dĩa ngộ nghĩnh, màu sắc của thức ăn với một không khí thoải mái có ánh mắt nụ cười của người thân, thay vào đó bữa ăn nhiều khi trở thành “cuộc chiến”, trẻ bị ép ngồi gò bó, bị la, bị nhéo, bị bóp mũi nếu không chịu há miệng, bị nhồi nhét dù bé không thấy đói…

Trẻ cảm nhận một không khí căng thẳng giữa những người thân khi bé ăn thừa vài muỗng bột, mấy chục ml sữa. Có bậc cha mẹ còn cho thuốc vào thức ăn làm bé phải luôn cảnh giác, hoặc có vị còn dùng thức ăn để dỗ dành khen thưởng bé tạo cho bé có khuynh hướng dùng chuyện ăn uống làm “phương tiện” tấn công lại cha mẹ khi có điều gì không vừa ý…tất cả điều đó dẫn đến tình trạng trẻ dần sợ bữa ăn.

  • Do ép ăn
  • Sợ tăng cân
  • Sợ 1 loại thức ăn nào đó (những thực phẩm gia đình chưa từng ăn/ rất ít ăn/ bị gán những tác dụng phụ không mong muốn khi ăn)
  • Ăn phải có điều kiện
  • Do ăn ít hơn kì vọng của ba mẹ:
  • Ba mẹ canh giờ cho bú/ ăn
  • Ăn phải hết lượng đã định
  • Ăn phải giống trẻ cùng tuổi.

2. CÁCH KHẮC PHỤC:

  • Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
  • Cho trẻ bú mẹ/ bú bình khi trẻ đói, ngưng bú khi trẻ no, không dùng khăn, gối kê bình sữa cho trẻ.
  • Ăn dặm khi trẻ được 6 tháng tuổi.
  • Từ 1 đến 4 nhóm chất, từ ít đến nhiều, từ lỏng đến đặc
  • Sử dụng cốc thay bình bú để uống nước cho trẻ từ 6 tháng
  • Không ăn vặt, bú vặt. Cung cấp mỗi 3 tiếng một bữa ăn hoặc bữa sữa. Khuyến khích trẻ tự cầm bình bú, cốc uống sữa, ăn bằng tay, muỗng tuỳ độ tuổi.
  • Ăn tại vị trí được quy định như bàn ăn gia đình, ghế ăn dặm của trẻ.
  • Theo dõi tốc độ tăng trưởng của trẻ: Cân nặng, chiều dài, chiều cao, vòng đầu (36 tháng đầu). Không so sánh trẻ với các trẻ khác.
  • Kiên nhẫn và phối hợp với các bác sĩ Dinh dưỡng, bác sĩ Nhi loại bỏ nguyên nhân gây chán ăn, giảm đau cho bé.
  • Nên có một chế độ dinh dưỡng cho trẻ sinh non, nhẹ cân, suy dinh dưỡng.
  • Không lạm dụng kháng sinh.
  • Trẻ được khám tìm các triệu chứng thiếu sắt, canxi, kẽm, vitamin A, D, C, nhóm B… để bổ sung phù hợp.
  • Cho trẻ ăn đa dạng nhiều loại thức ăn và luôn thay đổi món ăn, cách chế biến.
  • Ở độ tuổi mầm non trở lên, cho bé tham gia vào các khâu lựa chọn thực phẩm, sơ chế, chế biến và thưởng thức thực phẩm.

3. Những điều cần tránh:

  • Gây sao nhãng: vừa ăn vừa chạy chơi, ăn với thiết bị màn hình, vừa ăn vừa chơi đồ chơi, bú lúc ngủ.
  • Kéo dài bữa ăn hơn mức tập trung của bé.
  • Thức ăn không phù hợp lứa tuổi: ăn cháo / cháo xay kéo dài.
  • Không kiên trì khi giới thiệu món mới hoặc bé không được tiếp xúc với món mà gia đình không “thích” ăn.
  • Thay thế thức ăn khác nhóm: chấp nhận bé không ăn thịt, rau, chỉ ăn cơm với nước tương hoặc nước canh để ăn nhiều hơn.
  • Thông điệp không hợp lý, không nhất quán: khi thì “không ăn thì nhịn”, lúc lại “món này ngon /bổ lắm ăn đi mẹ cho đi chơi”. Đem thức ăn làm phần thưởng hoặc khen thưởng liên quan đến chuyện ăn của trẻ.
  • La ép, doạ, hành hung, năn nỉ, hối thúc…
  • Ăn một mình, không khí căng thẳng.
  • Ăn vặt giữa các bữa, ăn đồ ngọt trước bữa chính, ăn quá nhiều đạm.

 

BSCKI Lê Thị Vân Anh – Khoa Dinh dưỡng – Tiết chế

Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố